Thăm nhà máy sản xuất Goshi - Thăng Long
VDF
đă phối hợp cùng Sở Công thương Hà Nội (DOIT) tổ chức chuyến thăm nhà
máy sản xuất tự động Goshi - Thăng Long (GTA) vào ngày 17 tháng 6 năm
2011. Hơn 20 công ty cơ khí tại Hà Nội đă tham dự sự kiện này, bao gồm
Vinaxuki, Sino, Sông Công Hà Đông... Khách đến thăm đều ấn tượng bởi
thái độ làm việc của cán bộ công nhân viên công ty, cách sắp xếp dây
chuyền sản xuất và cách thiết kế nhà xưởng...Khách đến thăm cũng có cơ
hội thảo luận với với các nhà quản lư bậc trung người Việt về 5S,
Kaizen, các hoạt động monozukuri, quản lư sản xuất, chất lượng và kiểm
tra hàng hoá tại GTA. Khách đến thăm cũng đánh giá cao nỗ lực của nhà tổ
chức tạo nên sự kiện này và mong muốn sẽ có những chuyến thăm tương tự
tới thăm các công ty Nhật Bản khác.
Hội nghị thường niên ADB
Từ
ngày 3-6 tháng 5 năm 2011, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đă tổ chức
Hội nghị thường niên lần thứ 44 tại Hà Nội. GS. Ohno (VDF) là diễn giả
chính tại Hội nghị thượng đỉnh Doanh nghiệp Việt Nam. Tại đây, GS. đă
thảo luận về nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung b́nh và tầm quan trọng của
việc học hỏi chính sách đối với Việt Nam. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải,
Bộ trưởng KHĐT Vơ Hồng Phúc, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh, Thống đốc
NHNN Nguyễn Văn Giàu và Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda cũng phát biểu tại
hội nghị. GS. Ohno cũng là diễn giả tại một hội thảo khác của ADB về
Châu Á thu nhập trung b́nh, bên cạnh GS. Robert Mundell (ĐH Columbia,
Hoa Kỳ), GS. Dwight Parkins (ĐH Harvard, Hoa Kỳ), và GS. Ravi Kanbur (ĐH
Cornel, Hoa Kỳ). ADB đang chuyển sang các vấn đề về thu nhập trung b́nh
bởi nhiều nước thành viên đă thoát khỏi nhóm các nước thu nhập thấp. Các
đại biểu và giới truyền thông Việt Nam cũng quan tâm tới t́nh trạng lạm
phát hiện nay và chính phủ sẽ đối phó với vấn đề này như thế nào.
ohno's
speech slides
Đoàn nghiên cứu chính sách đến
Đài Loan
Từ
21-25 tháng 3 năm 2011, Diễn đàn Phát triển GRIPS và VDF đă đến thăm
Cộng hoà Trung Hoa để nghiên cứu về phương pháp hoạch định chính sách.
Tại Đài Loan, Bộ Kinh tế đối ngoại (MoEA) là cơ quan có quyền lực lớn,
quản lư chính sách công nghiệp. Các công cụ chính sách chính bao gồm "các
dự án công nghiệp" do MoEA uỷ nhiệm, các viện nghiên cứu thiết kế và
thực hiện chính sách, các khu công nghệ cao và các khu chế xuất, và hỗ
trợ SME. Đài Loan đă xoá bỏ tất cả mọi ưu đăi trừ ưu đăi dành cho R&D và
áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp chung ở mức 17%. Nhằm đa dạng hoá
hoạt động công nghiệp bên cạnh hoạt động chế tạo phần cứng điện tử, Đài
Loan đang nỗ lực thúc đẩy đổi mới và năng lực mềm. . mission report
slides
Hội thảo về Phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam
Vào ngày 14 tháng 04
năm 2011, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp với Cơ quan Phát triển
Luxembourg đă tổ chức một buổi hội thảo về “Phát triển thị trường phái
sinh ở Việt Nam” tại Khách sạn Melia. Mục tiêu của hội thảo là thảo luận
giữa các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các vị khách quốc tế, Ủy ban
chứng khoán Nhà nước về những vấn đề then chốt liên quan đến việc phát
triển thị trường phái sinh ở Việt Nam. Ông Robert Singletary, chuyên gia
pháp lư của dự án Luxembourg, Ông Hannes Takacs, giám đốc CAPMEX (Phó
giám đốc Bộ phận giao dịch chứng khoán của Prague) đă tŕnh bày về các
vấn đề của thị trường phái sinh, chương tŕnh thí điểm và các kinh
nghiệm quốc tế về thị trường phái sinh. Dưới góc nh́n của ngành, Ông Dan
Svensson, Giám đốc của Dragon Captal tại Việt Nam đă trao đổi về các sản
phẩm phái sinh hiện tại đang giao dịch ở Việt Nam. Với tư cách là một
nghiên cứu viên của Diễn đàn Phát triển Việt nam, Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
cũng đă phát biểu và trao đổi với các chuyên gia và các lănh đạo của Ủy
ban chứng khoán về các ưu tiên của chương tŕnh trong chiến lược và lộ
tŕnh để phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam
VDF đến thăm KOICA
Ngày 28/02/2011, VDF
đă đến thăm văn pḥng tại Hà Nội của Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA)
để học hỏi về chương tŕnh chia sẻ kiến thức đối với các dự án của Việt
Nam. Với đối tác chính là Viện Chiến lược phat triển/ Bộ kế hoạch và Đầu
tư, KOICA làm việc với các Bộ và Viện. Mười ba chủ đề được chọn lọc cùng
nghiên cứu bao gồm chiến lược phát triển dài hạn, đào tạo nghề, phân
tích thị trường lao động.v.v... Với mỗi chủ đề, các chuyên gia Hàn
Quốc sẽ tham gia tổ chức các hội thảo và hoàn thành các báo cáo bao gồm
các phân tích về t́nh h́nh Việt Nam, kinh nghiệm Hàn Quốcvà những lời
khuyên về chính sách. Các báo cáo và hội thảo tổng kết được ấn định vào
tháng 9 năm 2011. Hàn Quốc cũng cung cấp những hỗ trợ tương tự cho nhiều
quốc gia khác không chỉ Việt Nam. Trước đó, vào tháng 11 năm 2010, nhóm
nghiên cứu từ GRIPS-VDF đă đến thăm trụ sở chính của KOICA tại Seoul để
thu thập thông tin về vốn ODA cho các hoạt động trí tuệ của Hàn Quốc.
Hội thảo về Chất lượng tăng
trưởng
Ngày
24 tháng 2 năm 2011,
Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Viện
Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản đồng tổ chức hội thảo "Chất
lượng Tăng trưởng Kinh tế Việt Nam: Giai đoạn 2001-2010 và định hướng
tới năm 2020", thuhút hơn ba trăm khách mời từ các tổ chức chính phủ và
các tổ chức phi chính phủ. Ba bài thuyết tŕnh của GS. Trần Thọ
Đạt (NEU), TS. Bùi Trường Giang (VIE), và TS. Lê Xuân Bá (CIEM) cung cấp
một cái nh́n tổng quát về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Mặc dù tăng trưởng trung b́nh ấn tượng qua hai thập kỷ, sự tăng trưởng
này đă phần lớn dựa vào yếu tố mà không cải thiện đáng kể năng suất của
địa phương hay khả năng cạnh tranh. Bài thuyết tŕnh thứ tư của GS. Ohno
(GRIPS / VDF) so sánh thực tế quốc tế tốt nhất trong tổ chức và thủ tục
chính sách từ Hàn Quốc, Singapore, Malaixia, Thái Lan, vv, để Việt Nam
nâng cao năng lực hoạch định chính sách. Phần thảo luận nêu ra các vấn
đề về thay đổi nhận thức, mô h́nh tăng trưởng trong thập kỷ tới, đầu tư
công và hiệu quả của nó, phát triển nguồn nhân lực, quan hệ đối tác
công-tư nhân, và sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong hoạch
định chính sách. Một sự đồng thuận mà tư duy và thể chế cần được thay
đổi để đối phó với bối cảnh mới của hội nhập sâu hơn và cạnh tranh.
OhnoslideE
OhnoslideV
BaslideE
BaslideV
GiangslideE
GiangslideV
DatslideE
DatslideV
Bài giảng tại ADB về bẫy thu nhập trung b́nh của Việt Nam
Ngày
31/01/2011, giáo sư Kenichi Ohno (VDF/GRIPS) đă được Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB) Manila mời giảng về bẫy thu nhập trung b́nh tại Việt
Nam và trao đổi với các nhà quản lư ADB. Khi nhiều quốc gia Châu Á thoát
khỏi nhóm thu nhập thấp và gia nhập những nước thu nhập trung b́nh,
những hỗ trợ truyền thống cho giảm nghèo, giáo dục và sức khoẻ trở nên
ngày càng ít quan trọng trong khi xây dựng khả năng hoạch định chính
sách để đối phó với những thách thức mới trở nên đặc biệt cần thiết. ADB
đang mở rộng những giải pháp nhằm thay đổi chính sách của ḿnh và buổi
nói chuyện của giáo sư Ohno là bài giảng đầu tiên trong chuỗi những bài
giảng về Chính sách Phát triển Châu Á. ADB cũng sẽ nêu lại vấn đề này
khi tổ chức buổi gặp mặt thường niên tại Hà Nội vào đầu tháng 5 năm
2011.
Báo cáo khảo sát về nguồn nhân lực công nghiệp
Ngày 20/12/2010, VDF
đă xuất bản báo cáo khảo sát về "Chất lượng đào tạo kỹ thuật dạy nghề:
Nhận định của các doanh nghiệp tại Hà Nội và các tỉnh phụ cận". Khảo sát
được thực hiện từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009 nhằm xác định
nhu cầu của doanh nghiệp về nguồn nhân lực công nghiệp và nhận xét định
của các doanh nghiệp về chất lượng đào tạo của các trung tâm dạy nghề.
Khảo sát đă nhận được sự ủng hộ của các tổ chức trong nước và quốc tế
bao gồm Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Đại học Công nghiệp Hà Nội (HAUI),
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), Cơ quan Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Đại học Hiroshima.
Chúng tôi mời bạn
chia sẻ báo cáo với các đồng nghiệp quan tâm và hoan nghênh các ư kiến
phản hồi và góp ư của bạn cho các vấn đề trong tương lai. Bấm
here
để
tải về các báo cáo. Bản cứng có sẵn tại văn pḥng VDF.
Nghiên cứu thực nghiệm về các ngành công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội
Ngày 07/12/2010, Tiến sỹ. Nhâm Phong Tuấn, tiến sỹ trường Đại học
Hiroshima, hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Thương Mại, đă tŕnh
bày nghiên cứu của ḿnh về các ngành công nghiệp hỗ trợ trên cấp độ
doanh nghiệp. Sử dụng số liệu khảo sát từ 102 doanh nghiệp trên địa bàn
Hà Nội, các giả thuyết đă được kiểm định và
phương pháp tiếp cận của tổ chức công nghiệp, tổ chức
kinh tế, và tổ chức kinh tế, và quan sát dựa trên các nguồn
đă được so sánh. Nghiên cứu chỉ ra rằng cách tiếp cận thứ ba (RBV) có
sức giải thích lớn nhất. Các thảo luận tập trung vào phương pháp khảo
sát, chất lượng dữ liệu, quan hệ đảo ngược và sự tồn tại của các nhóm
khác nhau trong đối tượng nghiên cứu.
Giáo sư Ohno nói về công nghiệp hỗ trợ tại Diễn đàn CEO, VITV
Ngày
01/11/2010, Giáo sư Kenichi Ohno (Giám đốc nghiên cứu, VDF) và ông
Hiroyuki Moribe (Trưởng đại diện, JETRO Hanoi) đă có một thảo luận về
ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam tại Diễn đàn CEO (Kênh truyền h́nh
đầu tư Việt Nam, VITV). Buổi nói chuyện được phát sóng vào lúc 13h30 thứ
bảy, ngày 13 tháng 11 năm 2010. Cả hai khách mời cùng chia sẻ quan điểm về (i)
để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cần
có thời gian dài, Việt Nam
mới chỉ đang trong giai đoạn đầu, v́ vậy nên kiên tŕ và nhẫn nại;
(ii) hệ thống quốc tế và so sánh chính sách xúc tiến SI là cần thiết,
nhưng không phải sao chép hoặc bắt chước không có tính toán; (iii) phát
triển công nghiệp hỗ trợ là điểm khởi đầu tốt cho quá tŕnh công nghiệp
hoá và hiện đại hoá của quốc gia, và (iv) công tác triển khai/ thực hiện
cần nhiều hơn nữa sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách.
Buổi nói chuyện được phát lại vào lúc 12:30 thứ năm, ngày 18 tháng11 năm 2010 trên kênh VITV. Chương tŕnh hiện đang được phát trực tuyến
trên trang web: www.vtv.com.vn
(VTC8)
Nghiên cứu về “ Tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt nam –
kiểm định bằng lư thuyết tài chính hành vi”
Ngày 2 tháng 11 năm
2010, VDF đă xúc tiến nghiên cứu về “ Tính hiệu quả của thị trường
chứng khoán Việt nam – kiểm định bằng lư thuyết tài chính hành vi” sau
khi thảo luận với các chuyên gia từ Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Hiệp
Hội Trái phiếu Việt nam, Ủy Ban Giám sát tài chính quốc gia và các công
ty chứng khoán. Nghiên cứu này nhằm mục đích (i) đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư, (ii) kiểm định lư thuyết tài chính
hành vi có thể áp dụng ở Việt nam được không, (iii) đánh giá cơ chế công
bố và tiếp nhận thông tin trên thị trường, từ đó (iv) đánh giá tính hiệu
quả của thị trường. Nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện một khảo sát toàn diện
đối với tất cả các thành viên thị trường, bao gồm các nhà đầu tư cá nhân
và tổ chức, các công ty chứng khoán, các công ty niêm yết, các nhà hoạch
định chính sách để trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Trong ngày hôm đó,
nhóm nghiên cứu cũng đă thảo luận về 2 bảng hỏi đối với công ty niêm yết
và nhà đầu tư. Báo cáo cuối cùng dự định sẽ được công bố vào cuối tháng
3 năm 2011.
Toạ đàm về “ Mô h́nh giám sát thị trường tài chính – kinh nghiệm của
Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Hàn Quốc”
Ngày 17 tháng 8, 2010
nhóm nghiên cứu VDF đă tổ chức buổi Toạ đàm về “ Mô h́nh giám sát thị
trường tài chính – kinh nghiệm của Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Hàn
Quốc”. TS Nguyễn Thị Minh Huệ, nghiên cứu viên VDF/ giảng viên NEU đă
thay mặt nhóm nghiên cứu tŕnh bày kinh nghiệm mô h́nh giám sát thị
trường tài chính của Nhật Bản, Singapore và Malaysia từ kết quả chuyến
nghiên cứu ở Nhật Bản vào đầu năm. Th.S Nguyễn Đức Trung, Trưởng pḥng
Quản lư Khoa học, Học viện Ngân hàng đă tŕnh bày kinh nghiệm của Hàn
Quốc và một số gợi ư cho Việt nam. Các chuyên gia đến từ Uỷ ban giám sát
tài chính quốc gia, Bảo hiểm tiền gửi Việt nam và các nhà nghiên cứu đă
thảo luận về ưu điểm cũng như hạn chế của các mô h́nh trên và trao đổi
về một số vấn đề nghiên cứu tiếp theo. Trong thời gian tới, nhóm nghiên
cứu sẽ tập trung nghiên cứu về mẫu Báo cáo giám sát thị trường tài chính
theo thông lệ quốc tế cũng như kinh nghiệm của 4 nước trên, bao gồm: (i)
cấu trúc của Báo cáo, (ii) các chỉ tiêu tài chính giám sát và (iii) cách
thức áp dụng, tính toán các chỉ tiêu này ở Việt nam.
HueslideV(PDF679KB)
TrungslideV
(PDF45,512KB)
Hợp tác với Bộ Tài nguyên và Môi trường về Mô h́nh hoá nền kinh
tế và môi trường:
Nhóm nghiên cứu môi
trường VDF đang làm việc cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) nhằm
đành giá tác động của môi trường nảy sinh bởi các hoạt động kinh tế tại
khu vực kinh tế phía Bắc của Việt Nam và giới thiệu một khung cụ thể để
đo lường sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực và giữa các ngành công
nghiệp trong một khu vực. Trưởng nhóm nghiên cứu của VDF Bà Lê Hà Thanh
đă cung cấp những ư tưởng ban đầu, phân tích kinh nghiệm quốc tế và phác
thảo nội dung báo cáo.
Đoàn công tác về chiến lược phát triển kinh tế xă hội đến Nhật Bản
Từ ngày mùng 6
đến 14 tháng 6 năm 2010, những nhà soạn thảo chính sách cấp cao đă có
chuyến công tác Nhật Bản nhằm thu thập thông tin để hoạch định các chính
sách tương lai. Thành viên đoàn bao gồm: ông Đỗ Hoài Nam, ông Lê
Đức Thuư, ông Trương Đ́nh Tuyển, ông Trần Đ́nh Thiên, và các thành viên
khác. Đoàn công tác đă có cuộc trao đổi với Gs.Tsuboi (Waseda), Gs.Ohno
(VDF/GRÍP), Gs.Kuchiki (Đại học Nihon), Gs.Tajika (Đại học Hitotsubashi),
và Gs. Matsushima (Đại học Khoa học Tokyo),... Đoàn cũng đă có cuộc gặp
với JICA, Ngân hàng Nhật Bản, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam- Nhật Bản, JETRO,
Viện nghiên cứu Daiwa... Chủ đề quan tâm của đoàn bao gồm: các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, những ngành công nghiệp hỗ trợ, tăng cường năng suất
và chất lượng. Đây là một phần trong hỗ trợ của JICA đối với chiến lược
phát triển kinh tế xă hội trong giai đoạn tiếp theo của Việt Nam.
Hội thảo về Toàn cầu hóa và sự phát triển của các nước châu Á tại Hàn
Quốc
Từ ngày 12 đến
14 tháng 5, Trường Đại học Hàn quốc tại Sejong đă tổ chức Hội thảo quốc
tế về " Toàn cầu hoá và sự phát triển của các quốc gia Châu Á" . Các nhà
nghiên cứu, giảng viên đến từ Trung quốc, Nhật Bản, Malaysia, Việt nam
và Hàn Quốc đă tŕnh bày các nghiên cứu từ các chủ đề khác nhau về kinh
tế như: (i) kinh tế và các vấn đề về tiền tệ, (ii) các vấn đê về lao
động và trẻ em trong bối cảnh toàn cầu hoá, (ii) hội nhập và tài chính
quốc tế và (iv) xu hướng phi tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế. TS Trần
Thị Thanh Tú, nghiên cứu viên VDF/giảng viên NEU đă tŕnh bày nghiên cứu
về " Vai tṛ của chính sách tiền tệ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế
ở Việt nam". Sau khi phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến hoạt
động của Ngân hàng và doanh nghiệp ở Việt nam trong thời gian qua, bài
tŕnh bày đă tập trung thảo luận về các hạn chế của chính sách cho vay
hỗ trợ lăi suất trong giai đoạn khủng hoảng và đề xuất một số giải pháp
chính sách. Hội thảo này là một cơ hội rất hữu ích để chia sẻ và trao
đổi
kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn giữa các nhà nghiên cứu của các
quốc gia Châu Á và phát triển mạng lưới nghiên cứu giữa VDF với các nhà
nghiên cứu trong khu vực. SlideE
Đối thoại với tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày
11/05/2010, VDF đă được Ban Quản lư Dự án, Dự án cải thiện môi trường
đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc mời đến để thảo luận về thúc đẩy công
nghiệp hỗ trợ. Bốn thành viên bao gồm lănh đạo và các nghiên cứu viên
VDF, hai chuyên gia JICA, và một nhân viên Đại học Công nghiệp Hà Nội
tham dự. Về phía tỉnh Vĩnh Phúc, Chủ tịch Ban QLDA, Thủ trưởng các Sở
KHĐT và DOIT, và Giám đốc Trung tâm Dịch vụ One Stop đă tham dự. Các kế
hoạch và t́nh h́nh hiện nay của Vĩnh Phúc đă được giải thích, quan điểm
và ư kiến cũng được trao đổi. Đoàn đă đi thăm hai trong số khu công
nghiệp đang hoạt động, Khai Quang và B́nh Xuyên
Hội thảo hàng năm của VDF về "Vượt qua bẫy thu nhập trung b́nh: Cơ hội &
thách thức đối với Việt Nam"
Ngày 18/3/2010, VDF và
trường Đại học Kinh tế Quốc dân đồng tổ chức hội thảo “Vượt qua bẫy thu
nhập trung b́nh: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam” tại khách sạn
Nikko. Tham dự hội thảo có hơn 100 đại biểu đến từ các cơ quan chính phủ
như Văn pḥng Chính phủ, Văn pḥng Quốc hội; Bộ KHĐT, Bộ CT, Bộ TC, Bộ
LĐTBXH; các viện nghiên cứu; các trường đại học, các tổ chức quốc tế như
WB, JETRO, JICA, GTZ; và các cơ quan thông tấn, báo chí. Ba bài tham
luận tại hội thảo tập trung vào ba chủ đề: kinh tế, xă hội và môi trường.
Tham luận thứ nhất do GS. TS. Kenichi Ohno, GĐ VDF tŕnh bày, cảnh báo
về rủi ro mắc bẫy thu nhập trung b́nh nếu Việt Nam không đổi mới phương
thức hoạch định và tổ chức chính sách. Để tránh bẫy, Việt Nam cần học
tập có lựa chọn từ những thành công và thất bại của các nước đi trước
như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan… Tham luận thứ hai do TS.
Giang Thanh Long, giảng viên ĐH KTQD và nghiên cứu viên VDF tŕnh bày.
TS. Long đă chỉ ra một thách thức mới đối với Việt Nam, đó là vấn đề già
hóa dân số đă bắt đầu xảy ra từ 2010. Dân số già hóa sẽ không trở thành
một gánh nặng cho đất nước nếu ngay từ bây giờ Việt Nam chuẩn bị những
chính sách hợp lư để có thể đảm báo già hóa thành công. Những chính sách
này bao gồm: xây dựng lộ tŕnh đổi mới chương tŕnh hưu trí, đa dạng hóa
loại h́nh bảo hiểm, thiết kế một hệ thống trợ cấp xă hội phổ cập; và
thúc đẩy các h́nh thức hoạt động kinh tế cho người cao tuổi. Bài tŕnh
bày cuối cùng do TS. Lê Hà Thanh, giảng viên NEU/nghiên cứu viên VDF
tŕnh bày. TS. Thanh đă chỉ ra một thách thức đang ngày càng nghiêm
trọng về môi trường. Từ kết quả phân tích Nghị định 67 về thu phí nước
thải công nghiệp, TS. Thanh đă rút ra bài học chung cho quá tŕnh hoạch
định chính sách là cần có sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là
các doanh nghiệp, cần có lộ tŕnh thực hiện rơ ràng, minh bạch và hợp lư,
và phải có cơ chế quản lư giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo tính khả thi
của chính sách. Các đại biểu đă thảo luận sôi nổi xoay quanh ba nội dung
tŕnh bày. Hầu hết các ư kiến đều cùng chung quan điểm cho rằng Việt Nam
cần đổi mới hoạch định chính sách theo hướng tăng cường sự phối hợp giữa
các bên liên quan và sự năng động của khu vực tư nhân; tăng trưởng của
Việt Nam chủ yếu dựa vào ngoại lực mà chưa tận dụng được nội lực; và
nguồn nhân lực cần phải trở thành động lực chính cho tăng trưởng nhưng
hiện Việt Nam chưa phát huy tối da nguồn lực này. Để biết thêm chi tiết
về nội dung tŕnh bày và thảo luận tại hội thảo, xin xem
Tóm tắt hội thảo
(PDF74KB)
Slides1E
(PDF1.4MB)
Slides1V
(PDF2.1MB)
Slides2E
(PDF2.1MB)
Slides2V
(PDF2.6MB)
Slides3E
(PDF1.2MB)
Slides3V
(PDF1.3MB).
Hội thảo về “Ứng dụng hệ
thống tư vấn quản trị doanh nghiệp của Nhật Bản vào Việt Nam”
Ngày 16 tháng 3 năm
2010, TS. Phạm Thị Huyền và Ths. Đỗ Thị Đông đă tŕnh bày nghiên cứu về
“Ứng dụng hệ thống tư vấn quản trị doanh nghiệp của Nhật Bản vào Việt
Nam”. Với kết quả nghiên cứu 158 SMEs và 50 nhà tư vấn quản trị doanh
nghiệp ở Việt Nam, hai nghiên cứu viên đă tŕnh bày nhu cầu của SMEs về
dịch vụ tư vấn quản trị doanh nghiệp, nhu cầu được đào tạo của các tư
vấn quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam và lưu ư khi áp dụng hệ thống
shindanshi ở Việt Nam. Đến dự hội thảo có đại diện của nhiều đơn vị có
liên quan đến phát triển SMEs như AIP (MOIT), VEA (MPI), SMEPC (VCCI),
VPC (STAMEQ), NEU, WDA, … Các vấn đề được thảo luận nhiều nhất là (i)
nhu cầu tư vấn của các doanh nghiệp, (ii) nhu cầu được đào tạo của các
tư vấn quản trị doanh nghiệp, (iii) đơn vị quản lư hệ thống shindanshi,
(iv) nội dung của chương tŕnh đào tạo, … Đây là hội thảo lần thứ 4 của
VDF về hệ thống shindanshi của Nhật Bản trong nỗ lực tăng cường sự hiểu
biết của cộng đồng về hệ thống này ở Việt Nam.
Slides1V
Slides2V
Hội thảo về
"Phân tích tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời của công ty niêm
yết ở Việt Nam"
Ngày 10 tháng 3, TS
Trần Thị Thanh Tú đă tŕnh bày nghiên cứu về: “Tác động của cơ cấu vốn
đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết Việt nam”. Với bộ số liệu
gồm hơn 400 công ty niêm yết (CTNY) từ năm 2005-2008, mô h́nh kinh tế
lượng đă được sử dụng để phân tích: (i) các nhân tố tác động đến cơ cấu
vốn của các CTNY và (ii) tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời
của các CTNY ở HOSE và HNX. Những kết luận chính đă được thảo luận bao
gồm: (i) hệ số nợ của các CTNY ở cả HOSE và HNX rất cao so với hệ số nợ
dài hạn, từ đó dẫn đến rủi ro thanh khoản của các công ty này, (ii) các
CTNY ở HOSE đă sử dụng đ̣n bẩy tài chính không hiệu quả, trong khi đó
các CTNY ở HNX lại thành công, thể hiện bởi khả năng sinh lời của CTNY ở
HOSE giảm và HNX tăng khi hệ số nợ tăng. Một số khuyến nghị cũng được đề
xuất nhằm hoàn thiện cơ cấu vốn của các CTNY như: giảm hệ số nợ ở HOSE
trong khi đó tăng hệ số nợ ở HNX, giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhà nước ở
các CTNY để tăng tính chủ động của các công ty trong việc xây dựng cơ
cấu vốn tối ưu. Những người tham dự hội thảo đến từ Uỷ ban chứng khoán,
công ty niêm yết và các nhà nghiên cứu cũng gợi ư một số vấn đề để tiếp
tục nghiên cứu sau này. Slide
V
Hội thảo của VDF-JARI-JETRO
về “Cải thiện chất lượng nhiên liệu sử dụng cho các phương tiện giao
thông tại Việt Nam”
Ngày 15 tháng 1 năm
2010, VDF, JARI và JETRO đă đồng tổ chức hội thảo về “Cải thiện chất
lượng nhiên liệu sử dụng cho các phương tiện giao thông tại Việt Nam”
tại Khách sạn Hilton Opera, Hà Nội. Tham gia hội thảo gồm các nhà hoạch
định chính sách, các nhà nghiên cứu và thực tiễn từ Diễn đàn Phát triển
Việt Nam (VDF), Viện Nghiên cứu Ô tô Nhật Bản (JARI), Hiệp hội các nhà
sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA), Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA),
Cục Đăng kiểm Việt Nam, Bộ Công Thương, Petrolimex và Petro Vietnam. Hội
thảo tập trung thảo luận các vấn đề (i) kết quả phân tích về chất lượng
nhiên liệu ở Việt Nam và Nhật Bản, (ii) ước tính tổng lượng phát thải
của các phương tiện giao thông, (iii) ảnh hưởng sức khỏe do ô nhiễm
không khí, (iv) nhiên liệu sinh học và (v) đề xuất về hệ thống quản lư
chất lượng nhiên liệu cho Việt Nam. Các chuyên gia của JARI đă tŕnh bày
các kết quả phân tích về chất lượng xăng dầu ở Việt Nam và Nhật Bản, ước
lượng mức độ phát thải từ các phương tiện giao thông tại Việt Nam dựa
trên công thức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và kết quả tính toán chỉ
số DALY. Một số câu hỏi được đưa ra về tính chính xác của công thức tính
toán. Nếu các hệ số chung về phát thải của thế giới được sử dụng để ước
tính lượng ô nhiễm cho từng loại phương tiện giao thông th́ tổng lượng ô
nhiễm chỉ đơn giản tỷ lệ với lưu lượng giao thông. Do vậy không thể đánh
giá được tác động của chính sách. Hơn nữa, đặc điểm về các loại phương
tiện giao thông ở Việt Nam cũng chưa được phản ánh trong nghiên cứu. Một
số đại biểu băn khoăn về độ tin cậy của số liệu về chất lượng nhiên liệu
ở Việt Nam. Các yếu tố như thời gian lấy mẫu, vị trí của các cây xăng,
chất lượng của trang thiết bị thực hiện phân tích, năng lực của cán bộ
phân tích v.v. cần được xem xét khi giải thích các kết quả kiểm tra chéo.
Các vấn đề về ước tính chi phí sức khỏe theo chỉ số DALY và định hướng
chính sách về cải thiện chất lượng nhiên liệu cũng được thảo luận tại
hội thảo.
Hội thảo về
"Giám sát thị trường tài chính ở
Việt Nam-Thực trạng và các vấn đề bất cập”
Ngày 14/01/2010, nhóm nghiên cứu VDF trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa
VDF và NFSC đă tổ chức một buổi tọa đàm khoa học về “Giám sát thị
trường tài chính ở Việt Nam_Thực trạng và các vấn đề bất cập”.
Nghiên cứu viên VDF, Nguyễn Thị Minh Huệ, cùng với ông Tống Quang Huy (cộng
tác viên VDF) đă thay mặt nhóm nghiên cứu tŕnh bày 5 nội dung: (1) Mô
h́nh giám sát thị trường tài chính hiện tại ở Việt Nam; (2) Các cơ quan
giám sát thị trường tài chính; (3) Các đối tượng giám sát; (4) Các
phương pháp giám sát hiện tại; (5) Các bất cập chính. Các chuyên gia từ
Cơ quan thanh tra, giám sát (NHNN), Vụ giám sát thị trường (UBCKNN), Vụ
quản lư, giám sát bảo hiểm (BTC), Ủy ban giám sát tài chính quốc gia và
các khách mời khác đă có những ư kiến đóng góp về thực trạng hoạt động
giám sát của từng lĩnh vực trong thị trường tài chính, cũng như vấn đề
về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong giám sát thị
trường tài chính. Các vấn đề trao đổi này là những cơ sở đầu tiên giúp
nhóm nghiên cứu xây dựng được bức tranh tổng thể và hiện thực về hệ
thống giám sát thị trường tài chính Việt Nam. Từ đó, nhóm nghiên cứu sẽ
tiếp tục đưa ra thứ tự ưu tiến cho các vấn đề cần được giải quyết và mời
các chuyên gia tư vấn nước ngoài đưa ra các giải pháp cho các vấn đề này.
slideE
slideV