Hội thảo về “Ứng dụng hệ
thống tư vấn quản trị doanh nghiệp của Nhật Bản vào Việt Nam”
Ngày 16 tháng 3 năm
2010, TS. Phạm Thị Huyền và Ths. Đỗ Thị Đông đă tŕnh bày nghiên cứu về
“Ứng dụng hệ thống tư vấn quản trị doanh nghiệp của Nhật Bản vào Việt
Nam”. Với kết quả nghiên cứu 158 SMEs và 50 nhà tư vấn quản trị doanh
nghiệp ở Việt Nam, hai nghiên cứu viên đă tŕnh bày nhu cầu của SMEs về
dịch vụ tư vấn quản trị doanh nghiệp, nhu cầu được đào tạo của các tư
vấn quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam và lưu ư khi áp dụng hệ thống
shindanshi ở Việt Nam. Đến dự hội thảo có đại diện của nhiều đơn vị có
liên quan đến phát triển SMEs như AIP (MOIT), VEA (MPI), SMEPC (VCCI),
VPC (STAMEQ), NEU, WDA, … Các vấn đề được thảo luận nhiều nhất là (i)
nhu cầu tư vấn của các doanh nghiệp, (ii) nhu cầu được đào tạo của các
tư vấn quản trị doanh nghiệp, (iii) đơn vị quản lư hệ thống shindanshi,
(iv) nội dung của chương tŕnh đào tạo, … Đây là hội thảo lần thứ 4 của
VDF về hệ thống shindanshi của Nhật Bản trong nỗ lực tăng cường sự hiểu
biết của cộng đồng về hệ thống này ở Việt Nam.
Slides1V
Slides2V
Hội thảo về
"Phân tích tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời của công ty niêm
yết ở Việt Nam"
Ngày 10 tháng 3, TS
Trần Thị Thanh Tú đă tŕnh bày nghiên cứu về: “Tác động của cơ cấu vốn
đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết Việt nam”. Với bộ số liệu
gồm hơn 400 công ty niêm yết (CTNY) từ năm 2005-2008, mô h́nh kinh tế
lượng đă được sử dụng để phân tích: (i) các nhân tố tác động đến cơ cấu
vốn của các CTNY và (ii) tác động của cơ cấu vốn đến khả năng sinh lời
của các CTNY ở HOSE và HNX. Những kết luận chính đă được thảo luận bao
gồm: (i) hệ số nợ của các CTNY ở cả HOSE và HNX rất cao so với hệ số nợ
dài hạn, từ đó dẫn đến rủi ro thanh khoản của các công ty này, (ii) các
CTNY ở HOSE đă sử dụng đ̣n bẩy tài chính không hiệu quả, trong khi đó
các CTNY ở HNX lại thành công, thể hiện bởi khả năng sinh lời của CTNY ở
HOSE giảm và HNX tăng khi hệ số nợ tăng. Một số khuyến nghị cũng được đề
xuất nhằm hoàn thiện cơ cấu vốn của các CTNY như: giảm hệ số nợ ở HOSE
trong khi đó tăng hệ số nợ ở HNX, giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhà nước ở
các CTNY để tăng tính chủ động của các công ty trong việc xây dựng cơ
cấu vốn tối ưu. Những người tham dự hội thảo đến từ Uỷ ban chứng khoán,
công ty niêm yết và các nhà nghiên cứu cũng gợi ư một số vấn đề để tiếp
tục nghiên cứu sau này. Slide
V
Hội thảo của VDF-JARI-JETRO
về “Cải thiện chất lượng nhiên liệu sử dụng cho các phương tiện giao
thông tại Việt Nam”
Ngày 15 tháng 1 năm
2010, VDF, JARI và JETRO đă đồng tổ chức hội thảo về “Cải thiện chất
lượng nhiên liệu sử dụng cho các phương tiện giao thông tại Việt Nam”
tại Khách sạn Hilton Opera, Hà Nội. Tham gia hội thảo gồm các nhà hoạch
định chính sách, các nhà nghiên cứu và thực tiễn từ Diễn đàn Phát triển
Việt Nam (VDF), Viện Nghiên cứu Ô tô Nhật Bản (JARI), Hiệp hội các nhà
sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA), Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA),
Cục Đăng kiểm Việt Nam, Bộ Công Thương, Petrolimex và Petro Vietnam. Hội
thảo tập trung thảo luận các vấn đề (i) kết quả phân tích về chất lượng
nhiên liệu ở Việt Nam và Nhật Bản, (ii) ước tính tổng lượng phát thải
của các phương tiện giao thông, (iii) ảnh hưởng sức khỏe do ô nhiễm
không khí, (iv) nhiên liệu sinh học và (v) đề xuất về hệ thống quản lư
chất lượng nhiên liệu cho Việt Nam. Các chuyên gia của JARI đă tŕnh bày
các kết quả phân tích về chất lượng xăng dầu ở Việt Nam và Nhật Bản, ước
lượng mức độ phát thải từ các phương tiện giao thông tại Việt Nam dựa
trên công thức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và kết quả tính toán chỉ
số DALY. Một số câu hỏi được đưa ra về tính chính xác của công thức tính
toán. Nếu các hệ số chung về phát thải của thế giới được sử dụng để ước
tính lượng ô nhiễm cho từng loại phương tiện giao thông th́ tổng lượng ô
nhiễm chỉ đơn giản tỷ lệ với lưu lượng giao thông. Do vậy không thể đánh
giá được tác động của chính sách. Hơn nữa, đặc điểm về các loại phương
tiện giao thông ở Việt Nam cũng chưa được phản ánh trong nghiên cứu. Một
số đại biểu băn khoăn về độ tin cậy của số liệu về chất lượng nhiên liệu
ở Việt Nam. Các yếu tố như thời gian lấy mẫu, vị trí của các cây xăng,
chất lượng của trang thiết bị thực hiện phân tích, năng lực của cán bộ
phân tích v.v. cần được xem xét khi giải thích các kết quả kiểm tra chéo.
Các vấn đề về ước tính chi phí sức khỏe theo chỉ số DALY và định hướng
chính sách về cải thiện chất lượng nhiên liệu cũng được thảo luận tại
hội thảo.
Hội thảo về
"Giám sát thị trường tài chính ở
Việt Nam-Thực trạng và các vấn đề bất cập”
Ngày 14/01/2010, nhóm nghiên cứu VDF trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa
VDF và NFSC đă tổ chức một buổi tọa đàm khoa học về “Giám sát thị
trường tài chính ở Việt Nam_Thực trạng và các vấn đề bất cập”.
Nghiên cứu viên VDF, Nguyễn Thị Minh Huệ, cùng với ông Tống Quang Huy (cộng
tác viên VDF) đă thay mặt nhóm nghiên cứu tŕnh bày 5 nội dung: (1) Mô
h́nh giám sát thị trường tài chính hiện tại ở Việt Nam; (2) Các cơ quan
giám sát thị trường tài chính; (3) Các đối tượng giám sát; (4) Các
phương pháp giám sát hiện tại; (5) Các bất cập chính. Các chuyên gia từ
Cơ quan thanh tra, giám sát (NHNN), Vụ giám sát thị trường (UBCKNN), Vụ
quản lư, giám sát bảo hiểm (BTC), Ủy ban giám sát tài chính quốc gia và
các khách mời khác đă có những ư kiến đóng góp về thực trạng hoạt động
giám sát của từng lĩnh vực trong thị trường tài chính, cũng như vấn đề
về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong giám sát thị
trường tài chính. Các vấn đề trao đổi này là những cơ sở đầu tiên giúp
nhóm nghiên cứu xây dựng được bức tranh tổng thể và hiện thực về hệ
thống giám sát thị trường tài chính Việt Nam. Từ đó, nhóm nghiên cứu sẽ
tiếp tục đưa ra thứ tự ưu tiến cho các vấn đề cần được giải quyết và mời
các chuyên gia tư vấn nước ngoài đưa ra các giải pháp cho các vấn đề này.
slideE
slideV
Hội thảo về " Quản lư rủi ro của ngân hàng thương mại tại
Việt Nam"
Ngày 17 tháng 12 năm 2009, TS Phạm Tiến Thành, Trưởng pḥng Quản lư rủi
ro thị trường và tác nghiệp, Vietinbank, một trong những NHTM hàng đầu ở
Việt nam đă có một bài tŕnh bày nghiên cứu về “ Quản lư rủi ro của các
Ngân hàng thương mại Việt nam”. Khách tham dự Hội thảo đến từ Ngân hàng
Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước, các công ty
chứng khoán và ĐHKTQD đă thảo luận rất sôi nổi về mô h́nh quốc tế trong
quản lư rủi ro và thực trạng quản lư rủi ro của các NHTM Việt nam. Rủi
ro thanh khoản và rủi ro lăi suất là hai vấn đề thu hút nhiều câu hỏi
nhất, đặc biệt trong bối cánh chính sách tiền tệ của Việt nam thay đổi
khá nhanh trong thời gian gần đây. Các thông lệ quốc tế và kinh nghiệm
của ngân hàng Mỹ trong việc quản lư rủi ro cũng thu hút được sự quan tâm.
Ngoài ra, một số ư kiến cũng cho rằng rủi ro chính sách chính là một
trong những nhân tố cấu thành nên tổng rủi ro trong hoạt động ngân hàng
ở Việt nam. SlideE
SlideV
Hội thảo chung về Khu bảo tồn
biển (KBTB) ở Hội An, Việt Nam
Vào ngày 10 tháng
12 năm 2009, Diễn đàn Phát triển Việt Nam cùng với Hợp phần LMPA, WWF
Việt Nam, IUCN Việt Nam, MCD Việt Nam đă tham gia vào phiên Việt Nam của
Hội thảo khu vực Đông Á lần thứ 5 của Tổ chức Sáng kiến Bảo tồn San hô
với tiêu đề “Các KBTB Việt Nam: Ḥa nhập vào mạng lưới KBTB thế giới”.
Các nghiên cứu viên của Diễn đàn là bà Lê Hà Thanh và bà Vũ Thị Hoài Thu
đă đóng góp một bài tŕnh bày về “Chi trả cho dịch vụ môi trường ở Việt
Nam: Từ lư luận đến thực tiễn” và giúp Ban tổ chức soạn thảo một báo cáo
tóm tắt về những nỗ lực của Việt Nam về KBTB. Cuộc hội thảo kéo dài 4
tiếng đă tập trung thảo luận ba chủ đề chính là: (1) hiệu quả quản lư
các KBTB, (2) tài chính bền vững cho các KBTB và (3) sinh kế bền vững
cho các KBTB. Các đại biểu tham dự bao gồm các nhà hoạch định chính sách,
các nhà nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam và các nước Đông Á. Đây là
hội thảo hàng năm do Tổ chức Sáng kiến Bảo tồn San hô khởi xướng với sự
phối hợp của Bộ Môi trường Nhật Bản và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam. Hội thảo tiếp theo sẽ được tổ chức ở Thái Lan vào năm
2010. paper
slideE
Giải thưởng nghiên cứu
GDN 2009
Bài nghiên cứu về tác
động của kiều hối đến phúc lợi hộ gia đ́nh Việt Nam của TS. Giang Thanh
Long được xếp vào 5 bài viết cuối cùng của ṿng chung kết giải thưởng
hàng năm của Mạng lưới Phát triển Toàn cầu (GDN) năm 2009. TS. Long sẽ
tham gia hội thảo tại Praha, CH Séc từ 14/1 đến 18/1/2010 để tŕnh bày
bài viết. Kết quả cuối cùng sẽ được chính thức thông báo sau hội thảo.
Báo cáo về
an sinh xă hội Việt Nam ở Inđônêxia và về hệ thống hưu trí Việt Nam ở
Hàn Quốc
Vào
20-21/11/2009, TS. Giang Thanh Long đă tham dự và tŕnh bày báo cáo về
hệ thống an sinh xă hội của Việt Nam tại hội thảo “An sinh xă hội ở Châu
Á: Thực trạng và thách thức” do Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA) tổ chức tại
Jakarta, Inđônêxia. Trong báo cáo này, TS. Long tŕnh bày về quá tŕnh
phát triển hệ thống an sinh xă hội ở Việt Nam, đặc biệt là từ Đổi mới,
và mối quan hệ của nó với tăng trưởng ở Việt Nam. Ngay sau đó, vào các
ngày 25-26/11/2009, TS. Long cũng đă tham gia hội thảo “Phát triển hệ thống
hưu trí ở Châu Á: Tổng quan và định hướng cải cách” do Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đồng
tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc. TS. Long tŕnh bày quá tŕnh phát triển
của hệ thống hưu trí cũng như cơ hội, thách thức của hệ thống trong điều
kiện kinh tế, xă hội thay đổi, đặc biệt là sự biến đổi dân số ở Việt Nam
theo hướng già hóa từ thập kỷ tới.
Báo cáo về
dân số cao tuổi tại Văn Pḥng Quốc Hội
Vào
ngày 9/11/2009, TS. Giang Thanh Long đă tŕnh bày một báo cáo về dân số
cao tuổi ở Việt nam trước các đại biểu Quốc hội tại Ủy ban các vấn đề xă
hội của Quốc hội. Trong bài tŕnh bày, TS. Long nhấn mạnh rằng già hóa
dân số thể hiện sự tiến bộ vượt bậc về mặt xă hội của Việt Nam, nhưng
đồng thời cũng rất nhiều thách thức chính sách đặt ra như thay đổi đời
sống hộ gia đ́nh, mô h́nh và nguyên nhân bệnh tật, khả năng tiếp cận với
hệ thống hưu trí và trợ cấp xă hội c̣n thấp. TS. Long tŕnh bày một số
quan điểm chính sách an sinh xă hội nhằm đảm bảo đời sống khỏe mạnh về
tinh thần và vật chất cho người cao tuổi trong những năm tới.
Cơ cấu dân số vàng và chủ động chính sách công nghiệp
Ngày30/10/2009 tại UNDP Hà Nội, TS Giang Thanh Long (VDF / ĐHKTQD) và
Giáo sư Kenichi Ohno (VDF / GRIPS) thảo luận làm thế nào VN nên tận dụng
dân số tuổi lao động ngày càng tăng với tăng trưởng mạnh mẽ trong tương
lai. Tiến sĩ Long giải thích động lực dân số VN trong khi Giáo sư Ohno
đề nghị chủ động chính sách công nghiệp để tránh bẫy "thu nhập trung
b́nh." Từ cả hai quan điểm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là then
chốt. Cùng ngày Prof Ohno cũng đă nói chuyện với chủ đề tương tự tại
FTU-VJCC tổ chức hội nghị về Thúc đẩy Công nghiệp Hỗ trợ: Kinh nghiệm
của Nhật Bản và một số nước châu Á.
slide1
slide2
Lễ kư kết
biên bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu
Ngày
23/10/2009, Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Dự án hợp tác nghiên cứu giữa
Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRIPS) và Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, cùng với Ủy Ban Giám sát Tài Chính Quốc Gia Việt Nam (NFSC)
đă tiến hành kí kết Biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu và xây dựng “Báo
cáo nghiên cứu khả thi về giám sát an toàn vĩ mô thị trường Tài chính
Việt Nam”. Lễ kí kết được tiến hành giữa Giáo sư Kenichi Ohno, Đồng giám
đốc Diễn đàn Phát triển Việt Nam, và Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch
Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Hai bên đă thống nhất về các nội
dung chủ yếu bao gồm: Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát thị trường
tài chính Việt Nam; Nghiên cứu các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về giám
sát thị trường tài chính, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị và hướng
dẫn trong Báo cáo nghiên cứu khả thi về giám sát an toàn vĩ mô thị
trường Tài chính. Bản báo cáo cuối cùng được dự kiến hoàn thành vào
tháng 8 năm 2010.
Hội thảo về
Hoạt động giám sát
trên thị trường Chứng khoán Việt nam
Ngày
22 tháng 10 năm 2009, Ông Lê Trung Thành, Phó Khoa Tài chính, Học viện
Chính sách và Phát triển, MPI đă tŕnh bày về “Hoạt động giám sát trên
thị trường Chứng khoán Việt nam”. Các thảo luận tập trung vào các vấn đề
chính như tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt nam, đánh giá
thực trạng hoạt động giám sát và một số khuyến nghị nhằm áp dụng các
chuẩn mực quốc tế và mô h́nh giám sát ở trên thị trường chứng khoán Việt
nam. Những người tham gia hội thảo là các chuyên gia thực tiễn và nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực này đă rất đồng t́nh với những phát hiện và
điểm yếu trong hoạt động giám sát trên thị trường Việt nam cũng như mô
h́nh kiểm dịnh tính hiệu quả của thị trường do tác giả đề xuất. Mô h́nh
giám sát của Nhật bản ( SESC) được xem là mô h́nh thích hợp nhất có thể
ứng dụng ở Việt nam.
SlideE
(PDF13,214KB)
SlideV
(PDF13,269KB)
Hội thảo về
Quản lư các Khu bảo tồn biển
Ngày 21/10/2009, nghiên cứu viên VDF Vũ Thị Hoài Thu đă tŕnh bày về “Quản lư các Khu bảo
tồn biển hiện nay: Các vấn đề và hàm ư chính sách” với sự tham dự của
các nhà nghiên cứu và thực tiễn đến từ trường ĐHKTQD, Bộ Công Thương,
Hợp phần LMPA (Bộ NN&PTNT) và MCD Việt Nam. Hệ thống luật pháp về bảo
tồn biển chưa đầy đủ làm cho Việt Nam rất khó chuyển từ hệ thống “tiếp
cận mở” sang hệ thống “quản lư dựa trên các quyền” nhằm quản lư hiệu quả
các KBTB. Các đại biểu đều đồng ư với quan điểm rằng đồng quản lư là
cách tiếp cận quản lư phù hợp với các KBTB Việt Nam đối với cả cấp tỉnh
và cấp cộng đồng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa được thể chế hóa
trong hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo tồn biển. V́ vậy, việc hoàn
thiện hệ thống pháp lư về bảo tồn biển nói chung và về khu bảo tồn biển
nói riêng bên cạnh việc tạo ra các khuyến khích kinh tế đối với bảo tồn
và huy động các nguồn tài chính bền vững là rất cần thiết đối với Việt
Nam trong thời gian tới.
SlidesE
(PDF468KB)
Hội thảo về cụm công nghiệp
Ngày
18/9/2009, tại VDF, nghiên cứu viên VDF Nguyễn Thị Xuân Thúy đă tŕnh
bày về cụm công nghiệp. Về cơ bản, cụm công nghiệp được chia thành 3
loại: (i) gồm các doanh nghiệp tập trung lại, cùng sản xuất những sản
phẩm giống nhau hoặc có liên quan đến nhau; (ii) gồm các doanh nghiệp có
quan hệ gắn bó được thể hiện trong các bảng vào-ra; và (iii) cụm công
nghiệp có sự kết nối chặt chẽ giữa chính phủ - giới học viện, nghiên cứu
- doanh nghiệp. Các làng nghề có thể được xem là cụm công nghiệp loại (i),
trong khi cụm loại (ii) và (iii) vẫn c̣n hiếm thấy ở Việt Nam. Hiện nay,
nhiều nước trên thế giới đă thực hiện chính sách cụm công nghiệp, và có
nhiều đóng góp cho sự phát triển của địa phương và quốc gia. V́ vậy,
Việt Nam cần t́m hiểu kỹ hơn để có thể ứng dụng những kiến thức về cụm
công nghiệp vào chính sách phát triển kinh tế dựa trên cụm công nghiệp.
SlidesE
(PDF543KB),
SlidesV
(PDF544KB).
Hội thảo về
"Shindanshi:
Hệ thống Tư vấn Quản trị Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản và khả năng
ứng dụng tại Việt Nam"
Ngày
15/9/2009, VDF và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) đồng tổ chức một
hội thảo với chủ đề “Shindanshi: Hệ thống Tư vấn
Quản trị Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản và khả năng ứng dụng tại
Việt Nam”. Sau bài tŕnh bày của hai nghiên cứu viên của VDF là Đỗ
Thị Đông và Phạm Thị Huyền là bài tŕnh bày của ông Yoshifumi Murase,
đến từ Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, tập trung vào
sáng kiến hành lang công nghiệp Nhật Bản ở vùng sông Mê Kông. Các khách
mời đă thảo luận rất nhiều vấn đề, đặc biệt là (i) vai tṛ của chính phủ
trong việc hỗ trợ hệ thống; (ii) đào tạo shindanshi; (iii) cấp chứng chỉ
shindanshi; (iv) tạo niềm tin của các ngân hàng vào shindanshi; (v) thí
điểm nghiên cứu với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ; (vi) thời gian
triển khai sáng kiến hợp tác kinh tế và thương mại Mê Kông- Nhật Bản,…
Đây là hội thảo thứ ba của VDF trong nỗ lực giới thiệu khái niệm về hệ
thống shindanshi đến Việt Nam. Các khách mời là các đại diện đến từ Bộ
Công nghiệp, Cục Phát triển Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Bộ kế hoạch và
Đầu tư, Sở Công thương Hà Nội, các viện nghiên cứu, các ngân hàng và các
công ty.
Viện Nghiên cứu Ô tô Nhật Bản
làm việc với Diễn đàn Phát triển Việt Nam
VDF
phối hợp với Viện Nghiên cứu Ô tô Nhật Bản (JARI) thực hiện dự án về
Quản lư chất lượng nhiên liệu đối với ô tô, xe máy tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.
Trong khuôn khổ dự án các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí
sẽ được đề xuất. Đây là dự án song phương do Jetro tài trợ.
VDF là đầu mối thực hiện/điều phối dự án phía Việt Nam. Báo cáo kết quả
nghiên cứu sẽ được công bố vào đầu
năm 2010.
Hội thảo về
“Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế đối với sự an
toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam”
Ngày 11/8/2009, Diễn đàn Phát triển Việt nam (VDF) đă tổ chức cuộc Hội
thảo “Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế đối với
sự an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam”. Bà Phạm Bảo Khánh, Trưởng
pḥng giám sát ngân hàng của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đă trao đổi về
một số bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong hoạt động
giám sát ngân hàng, xem xét các bài học đó trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam giai đoạn 2006 – 2009 và một số khuyến nghị. Theo tác giả, các ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay nên tập trung vào việc quản lư và đo
lường các loại rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động
trong ngân hàng. Ngoài ra, các quy định trong hoạt động ngân hàng cũng
như hoạt động quản trị ngân hàng cũng cần được đánh giá xem xét lại và
tăng cường.
Hội thảo về "Hệ thống Tư vấn
Quản trị Kinh doanh của Nhật Bản"
Sáng 16-7-2009, VDF đă tŕnh bày một báo cáo nhỏ trong Hội thảo mang tên
“Shindanshi – Hệ thống Quản trị doanh nghiệp của Nhật Bản”. Các nội dung
về lịch sử h́nh thành, cơ cấu, cách thức tổ chức và quản lư, chương
tŕnh đào tạo shindanshi tại Nhật đă được 2 nghiên cứu viên của VDF là
Đỗ Thị Đông và Phạm Thị Huyền đề cập trong báo cáo. Những thay đổi trong
tuyển sinh và đào tạo shindanshi trong thời gian gần đây cũng đă được
chỉ ra. Để ứng dụng và Việt Nam, các khách mời của hội thảo đă đưa ra
một số vấn đề như (i) làm thế nào để tạo được ḷng tin của SMEs vào
shindanshi; (ii) cần xây dựng một hệ thống pháp luật thích hợp; (iii)
cần phát triển những cơ chế và lợi ích cho những thành viên tham gia và
sử dụng hệ thống shidanshi; (iv) cần có sự hậu thuẫn của chính phủ; và
(v) cần thực hiện một nghiên cứu về hoạt động tư vấn tại Việt Nam. Các
khách mời tham gia hội thảo đến từ Sở Công Thương Hà Nội, Hiệp hội Kiểm
toán viên hành nghề Việt Nam, Trung tâm Bồi dưỡng SMEs và Trung tâm Bồi
dưỡng và Tư vấn Marketing và các giảng viên ĐH Kinh tế Quốc dân. Giới
thiệu shindanshi được Nhật Bản cho rằng là một cách để hỗ trợ phát triển
công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
SlidesV
Hội thảo về "Tác
động của lạm phát cao và tăng trưởng kinh tế thấp đến mức độ giảm nghèo
ở Việt Nam"
Vào
ngày 15/7/2009, chúng tôi đă mời ThS. Nguyễn Việt Cường – giảng viên ĐH
KTQD và nghiên cứu viên của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương
(IRC) – đến chia sẻ nghiên cứu của Ông về tác động của lạm phát cao và
tăng trưởng kinh tế thấp đến mức độ giảm nghèo ở Việt Nam. Đây là hội
thảo lần thứ 5 trong Chương tŕnh hội thảo về các vấn đề xă hội của VDF
năm 2009. Bằng việc sử dụng số liệu hỗn hợp cho hộ gia đ́nh từ bộ số
liệu Điều tra mức sống hộ gia đ́nh của các năm 2002, 2004 và 2006, bài
nghiên cứu của ThS. Cường cho thấy khả năng giảm nghèo nhanh của Việt
Nam như trong thập kỷ vừa qua có thể bị cản trở bởi các điều kiện kinh
tế vĩ mô không thuận lợi trong thời gian gần đây, đó là lạm phát cao và
tăng trưởng kinh tế chậm. Tác giả cho rằng, bên cạnh nỗ lực hồi phục
tăng trưởng kinh tế th́ việc kiểm soát lạm phát cũng là một chính sách
quan trọng để tiếp tục giảm nghèo. Các đại biểu và ThS. Cường đă có
những trao đổi sôi nổi về các kết quả ước lượng và ngụ ư chính sách của
chúng trong suốt thời gian hội thảo.
SlideE Paper
Hội thảo về "Liệu thị trường
chứng khoán Việt Nam có lại đạt được một giá trị lâu bền hay không?”
Ngày 14 tháng 7 năm 2009, Diễn đàn phát triển Việt nam (VDF) đă tổ chức
một buổi hội thảo về chủ đề “ Liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có
lại đạt được một giá trị lâu bền hay không?”. Ông Nguyễn Quang Thuân,
Tổng giám đốc của công ty truyền thông tài chính StoxPlus đă có những
phân tích về thị trường chứng khoán Việt nam với những tác động của các
nhân tố vĩ mô như cán cân thanh toán, lăi suất, tỷ giá...Theo ông, các
nhân tố này đang tạo ra những dấu hiệu tích cực cho thị trường, tuy
nhiên trong thời gian tới thị trường có thể sẽ vẫn duy tŕ sự nguội lạnh.
Cuối cùng, đứng trên giác độ phân tích cơ bản, ông Thuân đưa ra dự đoán
về khoảng điểm mà VN Index có thể đạt được là 522x - 565x vào cuối năm
nay. Ông Thuân cũng gợi ư một số chiến lược đầu tư cho các nhà đầu tư
trong khoảng thời gian từ nay đến cuối năm
SlidesE
Hội thảo về xác định một chuẩn nghèo thống nhất cho Việt Nam
Vào
ngày
13/5/2009, chúng tôi đă mời ThS. Phùng Đức Tùng – một nghiên cứu viên
của Công ty tư vấn và nghiên cứu Đông Dương (IRC) – chia sẻ quan điểm và
cách đo lường của ông về đường nghèo hiện nay của Việt Nam. Đây là hội
thảo lần thứ 4 trong Chương tŕnh hội thảo về các vấn đề xă hội của VDF
năm 2009. Bài tŕnh bày của ông cho thấy, nhiều đường nghèo đang được sử
dụng ở Việt Nam đă và đang gây khó khăn cho việc nghiên cứu và hoạch
định chính sách trong việc xác định thực trạng nghèo. Với lư do đó, ThS.
Tùng gợi ư việc cập nhật đường nghèo 5 năm/lần thông qua việc sử dụng
mức một mức giá thống nhất để tính tiêu dùng và chi phí rổ hàng hóa, sử
dụng chỉ số giá vùng, khu vực để điều chỉnh chuẩn nghèo cho vùng, khu
vực thông qua ngang bằng sức mua, và sử dụng chỉ số giá tiêu dùng để
điều chỉnh chuẩn nghèo theo sự biến động của mức giá. Các đại biểu tham
dự đă góp ư và đưa ra nhiều t́nh huống cụ thể để chia sẻ các cách xây
dựng chuẩn nghèo. Các chính sách bảo trợ xă hội cũng đă được thảo luận
sôi nổi v́ những chính sách này có liên quan trực tiếp đến việc xác định
chuẩn nghèo.
Paper
Paper
Hội thảo về vấn đề giới trong phân công
việc trong hộ gia đ́nh Việt Nam.
Vào ngày 3/4/2009, hội thảo lần thứ 3 năm
2009 về các vấn đề xă hội ở Việt Nam đă được VDF đồng tổ chức với Viện
Dân số và các vấn đề xă hội (Đại học KTQD). GS. John Knodel (Đại học
Michigan) (ảnh, bên phải) và TS. Bussarawan Teerawichitchainan (Đại học
Quản trị Singapore) (ảnh, bên trái) tŕnh bày nghiên cứu của họ được
viết cùng hai nhà nghiên cứu người Việt Nam về vấn đề giới trong phân
công việc làm trong hộ gia đ́nh Việt Nam. Các tác giả sử dụng các phương
pháp kinh tế lượng khác nhau cho số liệu từ Nghiên cứu sự biến đổi gia
đ́nh ở Việt Nam năm 2003-2004 để trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Tính
toán cho thấy việc tham gia công việc trong gia đ́nh giữa nam giới và nữ
giới có sự khác biệt lớn khi xét theo độ tuổi và vùng cư trú. Các đại
biểu thảo luận rất sôi nổi về các vấn đề phát sinh khi điều tra, mô h́nh
phân tích và cách diễn giải kết quả ước lượng.
Tŕnh bày
Bài viết
Hội thảo hàng năm của VDF về tài trợ vốn cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong giai đoạn hậu lạm phát và suy giảm kinh tế
Ngày 20 tháng 03 năm
2009, Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) và Ủy bản chứng khoán Nhà nước
(SSC) đă phối hợp tổ chức hội thảo thường niên, chủ đề lần này là vấn đề
tài trợ vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hậu lạm phát
và suy giảm kinh tế. Chủ tọa của hội thảo là GS.TS. Nguyễn Văn Nam (Hiệu
trưởng ĐH KTQD), GS. Kenichi Ohno (Giám đốc VDF), và TS. Vũ Bằng (Chủ
tịch UBSKNN). Khoảng hơn 100 khách mời từ các viện nghiên cứu, Bộ tài
chính, Bộ kế hoạch và đầu tư,
các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp, Ngân hàng nhà nước, UBCK, các ngân hàng
thương mại, và các cơ quan
truyền thông đă tới dự hội thảo. VDF đă có hai bài tŕnh bày về kết quả
khảo sát 20 ngân hàng và gần 200 doanh nghiệp. Những kết quả điều tra
chính được thảo luận liên quan đến khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh
của ngân hàng do tác động của chính sách tiền tệ. TS. Nguyễn Sơn đă có những
kiến nghị nhằm ổn định thị trường chứng khoán và ông Nguyễn Quang Thuân
đă có những trao đổi về việc chuyển hướng của các doanh nghiệp từ vốn cổ
phần sang vốn vay truyền thống. Các vấn đề về hiệu quả của chính sách
kích cầu cũng như các biện pháp khác của Chính phủ hiện nay cũng được
đưa ra tranh luận và đánh giá.
SonHoiSlideE
(PD107KB) SonHoiSlideV
(PD469KB) TuHueSlideE
(PD99KB) TuHueSlideV
(PD244KB) NguyenSonSlideE (PD1125KB)
NguyenSonSlideV
(PD1317KB) NguyenThuanSlideE
(PD537KB) NguyenThuanSlideV
(PD738KB)
Hội thảo JICA-UNIDO-VDF về phát triển kỹ năng
Ngày
18/3/2009 (thứ Tư), JICA, UNIDO và VDF sẽ đồng tổ chức hội thảo về
“Phát triển kỹ năng nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa ở Việt Nam".
Hội thảo gồm hai phiên họp. Buổi sáng, bốn diễn giả đến từ các cơ sở đào
tạo trong và ngoài nước sẽ chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong việc phối
hợp cùng các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước để phát triển
kỹ năng. Buổi chiều, các nghiên cứu viên sẽ tŕnh bày kết quả điều tra
về chất lượng giáo dục và đào tạo nghề theo đánh giá của doanh nghiệp.
Đối tượng tham dự hội thảo là các nhà tài trợ, các nhà hoạch định chính
sách, các cơ sở giáo dục đào tạo, các nghiên cứu viên, và cộng đồng
doanh nghiệp. Hội thảo mong muốn tạo cơ hội để các bên liên quan và
những người tham dự cùng thảo luận về những khó khăn thách thức và giải
pháp tháo gỡ nhằm thúc đẩy liên kết giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo
với doanh nghiệp trong phát triển kỹ năng, cũng như xác định những kỹ
năng mà các doanh nghiệp chế tạo đang khan hiếm, và vai tṛ của các
chương tŕnh giáo dục, đào tạo nghề trong việc đáp ứng nhu cầu của doanh
nghiệp về nguồn nhân lực.
LanSlidesV(PD491KB)
HaSlidesE(PD587KB)
PornAnongSlidesE(PDF8,317KB)
HiepSlidesV(PDF272KB)
MoriHoangThuySlidesE(PDF468KB).
Hội thảo về việc sẵn sàng tham gia bảo hiểm xă hội tự nguyện ở Việt Nam
Vào ngày 13/3/2009, tại hội thảo
lần thứ hai năm 2009 về các vấn đề xă hội ở Việt Nam, TS. Paulette
Castel – chuyên gia tư vấn chính sách an sinh xă hội của Viện Khoa học
Lao động và Xă hội, Bộ LĐ-TB-XH – đă tŕnh bày nghiên cứu của bà về việc
sẵn sàng tham gia hệ thống bảo hiểm xă hội tự nguyện ở Việt Nam. Sử dụng
mô h́nh logít thứ tự với số liệu từ một cuộc điều tra ở Nghệ An năm
2005, báo cáo của bà cho thấy lao động ở khu vực phi chính thức sẵn sàng
tham gia hệ thống này, nhưng nhiều điều kiện cần phải được xem xét cụ
thể. Các đại biểu tham dự hội thảo tranh luận sôi nổi về mô h́nh và việc
diễn giải kết quả ước lượng.
Bài tŕnh bày;
Bài viết
Hội thảo về hệ thống shindanshi
Ngày
13/2/2009, tại hội thảo VDF, ông Toyoharu Kobayashi (chuyên gia về chính
sách SME của JICA & METI) và ông Takayuki Hayashida (chuyên gia JICA)
đă giới thiệu về hệ thống shindanshi
(tư vấn SME, SMEC) của Nhật Bản . Ông Kobayashi
đă tŕnh bày về lịch sử h́nh thành, quy tŕnh thi lấy chứng chỉ, và hiện
trạng của hệ thống shindanshi, c̣n ông Hayashida đă chia sẻ kiến
thức và quan điểm của ḿnh về hệ thống này. Được thành lập từ những năm
1960, mục tiêu của hệ thống là nhằm cung cấp những chuyên gia tư vấn
được chuẩn hóa cho SMEs ở Nhật Bản. Từ đó đến nay, động lực để lấy chứng
chỉ shindanshi đă thay đổi nhiều, nhưng không thể phủ nhận
những đóng góp của hệ thống cho sự phát triển của các doanh nghiệp Nhật
Bản. Hệ thống này đă được triển khai ở Thái Lan nhưng không thành công
do những khác biệt về mức độ phát triển của SMEs và các điều kiện kinh
tế. Khách tham gia hội thảo đều cho rằng các nước đang phát triển không
thể áp dụng nguyên trạng hệ thống mà cần phải lưu ư một số điểm như, cần
tạo ra động lực cho các bên liên quan (ngân hàng, SMEs, các chuyên gia
tư vấn SMEs...). Đây là hội thảo khởi đầu về nghiên cứu shindanshi
ở Việt Nam. VDF sẽ cử một nhóm nghiên cứu sang Nhật trong tháng tới để
t́m hiểu sâu hơn về vấn đề này.
KobayashiSlidesE
(PDF491KB),
HayashidaSlidesE
(PDF49KB).
Hoạt động giám sát ngân hàng
ở Việt Nam
Ngày
12/02/2009, Diễn đàn Phát triển Việt Nam đă tổ chức hội thảo về hoạt
động giám sát ngân hàng ở Việt Nam. ThS. Nguyễn Thị Minh Huệ (giảng viên
NEU/ nghiên cứu viên VDF) đă tŕnh bày thực trạng hoạt động giám sát
ngân hàng ở Việt Nam dựa trên cơ sở 25 nguyên tắc giám sát cơ bản của
Basel. Trong hội thảo, tác giả đă nêu ra một số hạn chế của hệ thống
giám sát ngân hàng của Việt Nam liên quan đến vấn đề pháp lư, nội dung
và cách thức tổ chức giám sát, và các yêu cầu thông tin trong hoạt động
giám sát. Thêm vào đó, các vị khách mời đến từ Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Ủy ban giám sát tài chính Việt Nam đă
đưa ra những ư kiến đóng góp về sự phối hợp và cơ chế chia sẻ thông tin
giữa các cơ quan này trong việc giám sát ngân hàng. Cuối cùng, tất cả
các thành viên tham gia đều đồng ư rằng hoạt động giám sát ngân hàng
hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được theo các yêu cầu của Basel và
cần được hoàn thiện với nhiều khuyến nghị chi tiết hơn. Các vấn đề thảo
luận trong hội thảo có thể coi là những định hướng tổt cho tác giả trong
việc tiếp tục khảo sát về hoạt động giám sát ngân hàng và t́m ra các
khuyến nghị cho việc hoàn thiện hệ thống giám sát ngân hàng ở Việt Nam.
SlidesE
(PDF84KB)
PaperE
(PDF43KB).
Phương pháp xây dựng kế hoạch hành động công nghiệp
Ngày
20-1-2009, GS. Kenichi Ohno (đồng giám đốc VDF) đă tŕnh bày tại hội
thảo VDF về các phương pháp soạn thảo kế hoạch hành động công nghiệp.
Chính sách công nghiệp đích thực phải có cấu trúc của một kế hoạch hành
động có tầm nh́n chiến lược. Các nước khác nhau áp dụng các cách khác
nhau để đảm bảo việc thực thi chính sách hiệu quả. Trường hợp của Thái
Lan, Malaysia, Việt Nam, Zambia và Ethiopia đă được đưa ra thảo luận để
giải thích cho các phương thức khác nhau. Mối liên hệ giữa ngân sách, cơ
chế phối hợp hiệu quả, sự tham gia của giới doanh nghiệp, và việc giám
sát có hiệu lực được cho là những yếu tố cơ bản. Đây là bài tŕnh bày do
Chính phủ Ethiopia yêu cầu nhằm rà soát và cải thiện chính sách công
nghiệp tại Ethiopia.
Slides E
Hội thảo về "Nghiên cứu về mối liên hệ giữa
tăng trưởng, đói nghèo và bất b́nh đẳng ở Việt Nam"
Vào
ngày 15/1/2009, VDF tổ chức buổi hội thảo đầu tiên cho “Chương tŕnh hội
thảo hàng tháng về các vấn đề xă hội”. TS. Lê Quốc Hội (giảng viên NEU/nghiên
cứu viên VDF) chia sẻ nghiên cứu về nghèo, bất b́nh đẳng và tăng trưởng
ở Việt Nam ở cấp độ tỉnh/thành phố. Sử dụng số liệu tổng từ nhiều nguồn
báo cáo khác nhau cho 61 tỉnh/thành phố trong giai đoạn 1996-2004, tác
giả ước lượng tác động của tỷ lệ nghèo và mức độ bất b́nh đẳng đến tăng
trưởng ở các tỉnh. Kết quả cho thấy bất b́nh đẳng không ảnh hưởng đến
tăng trưởng, trong khi nghèo tác động tiêu cực đến tăng trưởng. V́ thế,
tác giả cho rằng chúng cần được xem xét thận trọng trong chính sách phát
triển. Ư kiến của đại biểu tập trung chủ yếu vào việc đánh giá mức độ
phù hợp của mô h́nh, biến số lựa chọn cũng như việc sử dụng số liệu tổng
v́ đây là các nhân tố quyết định đến kết quả phân tích và ngụ ư chính
sách
Slide E